Hiến dân trọn đời mình vì sự nghiệp cứu nước

Phan Châu Trinh hay Phan Chu Trinh, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, tự là Tử Cán. Ông là nhà thơ, nhà văn và là nhà hoạt động chính trị thời cận đại trong lịch sử Việt Nam. Ông là một trong những nhân vật gắn liền với cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc, làm biến chuyển lịch sử và xã hội Việt Nam ở thế kỷ XX.

Phan Châu Trinh sinh ngày 09/9/1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc thôn Tây Lộc, xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, tự là Tử Cán. 

Cha ông là Phan Văn Bình, làm chức Quản cơ sơn phòng, sau tham gia phong trào Cần Vương trong tỉnh, làm Chuyển vận sứ đồn A Bá (Tiên Phước) phụ trách việc quân lương. Mẹ ông là Lê Thị Trung, con gái nhà vọng tộc, thông thạo chữ Hán, ở làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước. Cha mẹ ông sinh được ba người con, ông là con út. Năm 10 tuổi, ông mới được vào trường để học.

Bàn thờ Phan Châu Trinh tại Nhà lưu niệm Phan Châu Trinh tại thôn Tây Lộc, xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh

Mẹ ông mất sớm vào năm ông lên 6 tuổi. Với tư chất thông minh, cần cù, hiếu học; sinh ra trong hoàn cảnh đất nước đầy biến loạn, tuổi thơ Phan Châu Trinh trải qua nhiều gian nan cơ cực cùng với sự thăng trầm của lịch sử dân tộc: năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, năm 1861 chiếm Nam Kỳ, năm 1873 chiếm Bắc Kỳ và năm 1885 chiếm kinh thành Huế, nước Việt Nam trở thành nước bị đô hộ, Nhân dân Việt Nam trở thành người nô lệ. Trước cảnh đau thương ấy, phong trào Cần Vương bùng nổ, tại quê hương Quảng Nam, Phong trào Nghĩa hội là một trong những tổ chức hoạt động chống Pháp nổi tiếng mà cha ông là PhanVăn Bình đã tham gia, giữ chức vụ Quản cơ sơn phòng. Hòa mình với khí thế hừng hực đánh giặc, Phan Châu Trinh theo học võ nghệ với nghĩa quân, đến năm 1887, cha mất, Phong trào Nghĩa hội bị đàn áp trong biển máu. Đau xót trước nỗi đau mất cha, nhưng cũng chính lúc này hình thành trong ông một tư tưởng vì dân, vì nước. Ở tuổi 16 đầy nhiệt huyết, ông đã trăn trở để tìm ra con đường cứu nước của mình. Câu hỏi lớn đặt ra: “ Nhìn lại tình thế của đất nước, ông nhận định, dân ta không hèn kém, mà chỉ tại nhóm quan lại do cái học hư văn xuất thân, không còn biết sớm đào luyện tinh thần toan dân từ trước, và không sớm lo cải cách, không nhìn thấy xa hơn điều cần phải làm. Chung quy cũng chỉ tại cái học lầm lạc của dân nước ta mà ra. Một dân tộc muốn tự cường, trước hết phải mới về học thuật, vậy toàn dân ta cần phải cố gắng nhiều, bắt đầu từ việc học….(Theo Danh nhân Việt Nam). Từ những suy nghĩ này, ông tự thấy trách nhiệm của mình trước vận mệnh đất nước, điều đó thôi thúc ông hăng hái tiến trên con đường học vấn.

Năm 1887, ông trở lại công việc đèn sách sau gián đoạn gần 3 năm. Năm 1892, Phan Châu Trinh kết bạn với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp khi ông theo học với thầy Mã Sơn - Trần Đình Phong, một nhà giáo có đức độ, chí khí, tận tâm đào tạo nhân tài cho Quảng Nam để sau này có điều kiện giúp dân, cứu nước. 

Năm 1900, Phan Châu Trinh thi đỗ cử nhân, một năm sau đỗ Phó bảng nhưng phải về nhà vì đám tang anh ruột và ông ở lại dạy học. Sau đó, Phan Châu Trinh được bổ làm Thừa biện bộ Lễ, trong thời gian ở Huế, ông đọc sách về công cuộc duy tân ở Nhật Bản, tiếp cận chủ thuyết tam dân “Dân  tộc độc lập - Dân quyền tự do - Dân sinh hạnh phúc” của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu; tư tưởng dân chủ tư sản của các nhà dân chủ Pháp và những kế sách cải cách của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ... Những tư tưởng tiến bộ đó đã tác động mạnh mẽ đến Phan Châu Trinh. Vì vậy, tuy sống làm quan ở kinh đô nhưng tấm lòng ông luôn mang nặng nỗi đau người dân nô lệ với thân phận của người mất nước, ông từ quan trở về quê Quảng Nam tìm đường cứu nước và năm 1904, tại làng Thạnh Bình, huyện Tiên Phước, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu gặp nhau để bàn việc khởi sự.